Xử lý ra hoa cây vải và nhãn bằng biện pháp cơ giới

1. Điều khiển sinh trưởng của vải, nhãn bằng biện pháp khoanh cành

Biện pháp khoanh cành nhằm ngăn cản dòng nhựa luyện vận chuyển từ trên tán xuống rễ làm tăng tỷ lệ các bon/đạm (C/N) ở chồi ngọn tạo điều kiện cho cây phân hoá mầm hoa. Biện pháp này chỉ áp dụng với những cây vải, nhãn sinh trưởng khỏe.
Khi khoanh cành vải, nhãn người ta thường để lại một số cành không khoanh (cành thở) để cây duy trì sinh trưởng; Với cây vải, nhãn tuổi lớn, khả năng sinh trưởng thân tán chậm nên khoanh ½ số cành trong tán, (những cành năm trước đã khoanh thì năm sau không khoanh) để cây vừa cho quả tốt và vẫn duy trì được quá trình sinh trưởng.
1.1. Kiểm tra vườn cây, phân tích, đánh giá tình hình sinh trưởng của cây

1.1.1. Kiểm tra vườn cây.

Kiểm tra vườn cây, phân tích, đánh giá tình hình sinh trưởng của cây là công việc của người trồng vải, nhãn để dự đoán khả năng cây vải, nhãn tromg vườn tiếp tục ra lộc hay chuẩn bị ngừng sinh trưởng.
Với cây vải thời gian tiến hành kiểm tra vườn từ giữa tháng 11 đến hết tháng 12 hàng năm, với năm có tháng nhuận âm lịch thì kéo dài thêm nửa tháng.
Với cây nhãn (trồng ở Miền Bắc) thời gian tiến hành kiểm tra vườn từ giữa tháng 12 đến hết tháng 1 hàng năm, với năm có tháng nhuận âm lịch thì kéo dài thêm nửa tháng.
Với cây nhãn trồng ở Miền Nam, do nhiệt độ chênh lệch giữa các mùa ít thay đổi do vậy các giống nhãn, xuồng cơm, vàng, xuồng cơm trắng; nhãn long; nhãn super sau khi thu hoạch vụ chính có thể điều khiển sinh trưởng để nhãn ra thêm một vụ trái (nghịch vụ)
Với giống nhãn tiêu da bò người trồng nhãn mong muốn nhãn ra quả việc kiểm tra vườn cây để chuẩn bị điều khiển quá trình ra hoa đậu quả của nhãn được tiến hành với các hàng nhãn (cây nhãn) đang sinh trưởng lộc ở đợt 2 và lá trên lộc nhãn chuẩn bị thành thục.

1.1.2. Phân tích, đánh giá tình hình sinh trưởng của cây

Với vải, nhãn trồng ở Miền Bắc việc phân tích đánh giá sinh trưởng của cây trong mùa đông thực chất là đánh giá khả năng cây vải, nhãn có nghỉ sinh trưởng để phân hóa mầm hoa hay không ?.
Nói cách khác là quan sát tình hình sinh trưởng của cây và dự báo khả năng ra lộc đông của vải, nhãn, bởi vì vải và nhãn ra quả trên cành thu, nếu cây ra lộc đông thì sẽ không ra hoa đậu quả trong mùa xuân (với cây vải), còn cây nhãn thì vẫn có thể ra được hoa và đậu quả nhưng năng suất quả sẽ giảm nhiều.
Vải và nhãn chỉ ngừng sinh trưởng khi mùa đông lạnh và ít mưa do vậy với những năm mùa đông ấm và ẩm (mưa vào cuối tháng 11 và trong tháng 12) thì cây vải, nhãn sẽ ra lộc đông.
Vì vậy ngoài việc kiểm tra đánh giá tình hình sinh trưởng của cây trong vườn chúng ta còn phải quan tâm đến diễn biến thất thường của khí hậu trong mùa đông để có biện pháp khống chế khả năng ra lộc của vải nhãn trong mùa đông.
Ngoài yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến khả năng ngừng sinh trưởng lộc của vải, nhãn thì ẩm độ đất trong vườn và các cá thể cây có sức sinh trưởng mạnh vẫn có thể ra lộc trong mùa đông mặc dù thời tiết không có mưa trong nửa đầu của mùa đông đây là những vấn đề mà người trồng quả cần phải chú ý khi thực hiện kiểm tra vườn.

Trình tự các bước tiến hành quan sát đánh giá và dự báo khả năng ra lộc trong vụ đông của vải, nhãn trồng ở Miền Bắc:

- Bước 1: Quan sát tình hình sinh trưởng của lộc thu đợt 2
- Bước 2: Quan sát mầu sắc của lá trên lộc thu và trạng thái của cây trong mùa đông
- Bước 3: Kiểm tra độ ẩm của đất dưới tán vải, nhãn
- Bước 4: Quan sát và kiểm tra sự xuất hiện của mầm lộc
- Bước 5: Kết luận khả năng có thể ra lộc hay không ra lộc của các cá thể cây trên vườn
- Bước 6: Dự báo tỷ lệ cây có thể ra lộc trong mùa đông phục vụ công tác điều khiển sinh trưởng lộc của vải, nhãn.
Trình tự các bước tiến hành quan sát đánh giá và dự báo khả năng ra lộc trong vụ đông của vải, nhãn trồng ở Miền Nam:
Với cây vải trồng ở Đắk Lắk (DakLak) tiến hành theo 6 bước như vải trồng ở Miền Bắc song thời điểm tiến hành quan sát, đánh giá tình hình sinh trưởng của cây thực hiện sớm hơn 1 tháng (cần quan sát trong tháng 10 hàng năm) bởi vì thời điểm điều khiển sinh trưởng của cây vải ở vùng này tốt nhất là nửa đầu của tháng 11.

Với giống nhãn tiêu da bò tiến hành quan sát và đánh giá sinh trưởng của lộc nhãn như sau:

- Bước 1: Quan sát ghi chép tình hình sinh trưởng của lộc đợt 1
- Bước 2: Dự báo thời gian ra lộc của đợt 2
- Bước 3: Quan sát tình hình sinh trưởng của lộc đợt 2 và theo dõi mầu sắc của lá trên lộc và dự báo ngày lá trên lộc đợt 2 chuyển sang màu nõn chuối để tiến hành khoanh cành (khấc cành)

Với các giống: nhãn long, nhãn super, nhãn xuồng cơm vàng, nhãn xuồng cơm trắng sau khi thu quả vụ chính (tháng 6 - tháng 7) người ta áp dụng biện pháp cắt tỉa cành bón phân … để nhãn ra lộc người trồng nhãn cần quan sát và đánh giá sinh trưởng của lộc nhãn như sau:

- Bước 1: Quan sát ghi chép tình hình sinh trưởng của lộc đợt 1
- Bước 2: Dự báo thời gian ra lộc của đợt 2
- Bước 3: Quan sát tình hình sinh trưởng của lộc đợt 2 và theo dõi mầu sắc của lá trên lộc và dự báo ngày lá trên lộc đợt 2 chuyển sang màu nõn chuối để tiến hành xiết nước hoạc xử lý hóa chất để nhãn ra hoa vụ nghịch (trái vụ)

1.2. Xác định thời điểm khoanh cành

Biện pháp khoanh vỏ để tỷ lệ C/N trong chồi tăng nhờ vậy sau 1-2 tháng cây có thể ra hoa.
Việc tìm ra thời điểm khoanh vỏ tốt nhất với cây ăn quả được các nhà khoa học quan tâm, nếu khoanh vỏ sớm thì tỷ lệ khi tỷ lệ C/N trong tế bào thấp, chưa đủ để có thể kích thích quá trình phân hoá mầm hoa một cách hiệu quả dẫn đến tỷ lệ cành ra hoa thấp (Kosterman A.J.G.H., J.M, Bompard 1993)
Kinh nghiệm khoanh vỏ cành cho vải ở Lục Ngạn cho thấy, thời điểm khoanh vỏ cho các giống vải chín sớm (U hồng, U gai, U đường, U trứng) tốt nhất vào cuối tháng 11 còn vải thiều tốt nhất vào giữa tháng 12.
Kinh nghiệm khoanh vỏ cành trên nhãn tiêu da bò trồng ở Miền Nam Khi lá nhãn của đợt thứ hai có màu xanh đọt chuối (thường gọi là lá lụa), dùng dao cứa khoanh vỏ vòng tròn quanh thân cành. Chỉ khoanh vỏ trên những cành chính, nên để lại 1-2 cành thường được gọi là nhánh thở để có nhựa luyện nuôi cây. Vết khoanh rộng khoảng 1,5 - 2mm (đối với cành nhỏ), 3 - 5mm (đối với cành lớn).

Thời điểm khoanh cành trên vải, nhãn có thể tóm tắt như sau:

- Với vải, nhãn trồng ở Miền Bắc được xác định bởi thời điểm lộc thu đợt 2 bắt đầu già nhằm khống chế sự phát triển của lộc đông.
- Với nhãn trồng ở Miền Nam được xác định bởi mầu sắc của lá trên lộc đợt 2 khi chuyển mầu nõn chuối

1.3. Các bước tiến hành khoanh cành

1.3.1. Chuẩn bị dụng cụ và vật liệu

- Cưa cầm tay: yêu cầu lưỡi cưa phải sắc, sạch (không bị han gỉ), răng cưa mở có độ rộng để khi cắt vỏ cành có độ rộng đạt 0,3 cm
- Dao con mỏng, sắc và sạch
- Dây nilon: nilon mới còn nguyên trong cuộn, cắt thành từng khúc có độ rộng khoảng 3 cm.
Cưa và dao dùng để khoanh vỏ cành
Cưa và dao dùng để khoanh vỏ cành
Dây nilon cắt thành cuộn để buộc vết khoanh cành
Dây nilon cắt thành cuộn để buộc vết khoanh cành

1.3.2. Xác định vị trí khoanh cành

Vị trí khoanh cành tùy thuộc vào cành có kích thước lớn hay nhỏ, người ta thường chọn vị trí khoanh với cành có đường kính khoảng 3 – 4 cm, năm trước khoanh cành ở vị trí thấp, năm sau khoanh cành ở vị trí cao; năm sau không nên khoanh cành gần với vị trí năm trước đã khoanh để tránh gây tổn thương cho cành bị khoanh.

1.3.3. Các thao tác khoanh cành

1.3.3.1. Khoanh cành để c​ây ngừng sinh trưởng phân hóa mầm hoa vải, nhãn
Dùng cưa hoặc dao để khoanh vỏ cành; nếu thân cành to thì khoanh bằng cưa, thân cành nhỏ thì khoanh bằng dao; Có thể khoanh một vòng tròn khép kín trên thân cành hoặc khoanh theo đường xoắn trên thân cành
Cách khoanh như sau:
- Bước 1: Dùng cưa hoặc dao khoanh vỏ cành
- Bước 2: loại bỏ vỏ để đường khoanh có chiều rộng 1,5 - 4 mm tuỳ theo kích thước của thân cành tại vị trí khoanh
- Bước 3: Quấn kín vết khoanh bằng dây nilon sạch
- Bước 4: Tháo dây nilon khi cành nhú mầm hoa dài 3-5 cm.
Khoanh vỏ theo vòng tròn khép kín
Khoanh vỏ theo vòng tròn khép kín
Buộc dây nilon kín vết khoanh
Buộc dây nilon kín vết khoanh

1.3.3.2. Khoanh vỏ cành đang ra hoa để tăng tỷ lệ đậu quả

Khoanh cành mẹ khi đang mang hoa theo đường xoắn bằng dao sắc vừa đứt vỏ, độ rộng đường khoanh là vết cắt của lưỡi dao cách cuống chùm hoa từ 25 - 30cm. Với đường cắt nhỏ này dòng nhựa luyện sẽ được giữ lại ở cành làm cho tỷ lệ C/N của cành tăng lên trong thời kỳ hoa nở có tác dụng thúc đẩy quá trình thụ tinh thụ phấn của hoa trên cành tốt hơn làm tăng được tỷ lệ đậu quả ban đầu.

1.4. Kiểm tra đánh giá tình hình sinh trưởng của vải, nhãn sau khoanh cành

1.4.1. Kiểm tra tình hình sinh trưởng của vải, nhãn sau khoanh cành

Kiểm tra vườn vải nhãn sau khoanh vỏ cành là công việc cần thiết của người làm vườn để có được biện pháp kỹ thuật can thiệp kịp thời nhằm ngăn chặn sinh trưởng lộc của vải, nhãn bởi các lý do sau:
Trong điều kiện thời tiết diễn ra thuận lợi (trời không có mưa) thì sau khoanh cành thì vải, nhãn sẽ ngừng sinh trưởng (không tiếp tục ra lộc).
Trong điều kiện thời tiết bất thuận (có mưa) thì vải và nhãn vẫn ra lộc bình thường (tức là biện pháp khoanh vỏ cành không mang lại hiệu quả như người làm vườn mong muốn).
Việc kiểm tra vườn vải, nhãn sau khoanh cành cần tiến hành định kỳ từ 3
– 5 ngày một lần, nếu điều kiện thời tiết diễn ra thuận lợi (trời không mưa) thì thì 5 ngày kiểm tra vườn một lần, nếu thời tiết có mưa cần phải kiểm tra vườn thường xuyên để phát hiện lộc vải, nhãn.

1.4.2. Đánh giá tình hình sinh trưởng của vải, nhãn sau khoanh cành

Đánh giá tình hình sinh trưởng của vải, nhãn sau khoanh cành tức là đánh giá sinh trưởng lộc của vải, nhãn; nếu vải nhãn sau khoanh cành không xuất hiện lộc trên các cành đã khoanh tức là biện pháp khoanh đã cho hiệu quả tốt đó là ngăn được sự xuất hiện của lộc đông; và ngược lại.
Nếu biện pháp khoanh không mang lại hiệu quả thì chúng ta cần phải khống chế sinh trưởng của lộc vải nhãn bằng biện pháp sử dụng hóa chất bằng cách phun Ethrel hoặc phun đạm và ka ly hoặc ka ly ở liều cao để diệt lộc vải, nhãn (xem bài Xử lý ra hoa cây vải, nhãn: Điều khiển sinh trưởng bằng hóa chất).

2. Điều khiển sinh trưởng của vải, nhãn bằng biện pháp cuốc đứt bớt rễ

Biện pháp cuốc đất ở xung quanh tán đầu tháng 12 với cây vải và đầu tháng 1 với cây nhãn nhằm làm đứt bớt một phần rễ tơ của cây, tạo điều kiện cho cây ngừng sinh trưởng và làm giảm hàm lượng Giberilin trên chồi ngọn (vì đầu của rễ tơ là bộ phận của cây sản xuất ra Giberilin) giúp cây phân hoá mầm hoa tốt hơn trong mùa đông, ra nhiều hoa trong mùa xuân.

2.1. Kiểm tra vườn cây, phân tích, đánh giá tình hình sinh trưởng của cây

2.1.1. Kiểm tra vườn cây

Kiểm tra vườn cây để dự đoán khả năng cây vải, nhãn tromg vườn tiếp tục ra lộc hay chuẩn bị ngừng sinh trưởng, thời gian tiến hành kiểm tra vườn từ giữa tháng 11 đến hết tháng 12 hàng năm (với cây vải), từ giữa tháng 12 đến hết tháng 1 hàng năm (với cây nhãn), năm có tháng nhuận âm lịch thì kéo dài thêm nửa tháng.

Với cây nhãn trồng ở Miền Nam:

- Các giống nhãn, xuồng cơm, vàng, xuồng cơm trắng; nhãn long; nhãn super sau khi thu hoạch vụ chính (cuối tháng 6 đến hết tháng 7) thì tiến hành kiểm tra vườn để theo dõi và kiểm tra sinh trưởng lộc ở đợt 2 từ khi lộc xuất hiện đến khi lá trên lộc nhãn chuẩn bị thành thục.
- Giống nhãn tiêu da bò kiểm tra vườn cây tiến hành khi các hàng nhãn (cây nhãn) sinh trưởng lộc ở đợt 2 từ khi lộc xuất hiện đến khi lá trên lộc nhãn chuẩn bị thành thục.

2.1.2. Phân tích, đánh giá tình hình sinh trưởng của cây

Đây là công việc đánh giá khả năng của cây vải, nhãn tiếp tục sinh trưởng hay nghỉ sinh trưởng; nhằm dự báo khả năng ra lộc đông của vải, nhãn,
Chú ý: khi tiến hành kiểm tra vườn cây cần quan tâm đến độ ẩm của đất trong vườn vải, nhãn; nếu đất trong vườn không thể giảm được độ ẩm thì không nên áp dụng biện pháp cuốc đứt bớt rễ của vải, nhãn

2.2. Xác định thời điểm làm đứt bớt rễ

Thời điểm làm đứt bớt rễ vải, nhãn có thể tóm tắt như sau:
Với vải trồng ở Miền Bắc được xác định bởi thời điểm lộc thu đợt 2 bắt đầu già (với các giống vải sớm từ 15 tháng 11 cho đến mồng 1 tháng 12; với vải chính vụ từ mồng 1 tháng 12 cho đến 15 tháng 12) nhằm khống chế sự phát triển của lộc đông.
Với vải, nhãn trồng ở Miền Bắc được xác định bởi thời điểm lộc thu đợt 2 bắt đầu già (trong nửa đầu của tháng 1) nhằm khống chế sự phát triển của lộc đông.
Với nhãn trồng ở Miền Nam được xác định bởi mầu sắc của lá trên lộc khi chuyển mầu nõn chuối; thời điểm làm đứt bớt rễ còn phụ thuộc vào nhãn cho quả chính vụ (tháng 3 đến tháng 4) hay trái vụ (tháng 8 đến tháng 9) (ở Miền Nam người trồng quả gọi là vụ thuận hay vụ nghịch);
Với các giống nhãn Xuồng nếu làm đứt bớt rễ kết hợp với ngừng tưới nước khi lá của đợt đọt thứ hai trở nên già và bắt đầu cho đợt đọt thứ ba thì sẽ cho hiệu quả cao hơn.

2.3. Các bước tiến hành làm đứt bớt rễ

2.3.1. Chuẩn bị dụng cụ, máy làm đất

Các dụng cụ có thể dùng để làm đứt bớt rễ tơ của vải, nhãn gồm: Cuốc bàn, cày trâu, máy cày loại nhỏ; tùy theo điều kiện của chủ vườn và số lượng cây vải, nhãn mà người làm vườn chuẩn bị dụng cụ phù hợp.
Nếu tiến hành làm đứt bớt rễ vải, nhãn thủ công thì chúng ta cần chuẩn bị cuốc; yêu cầu cuốc phải sắc, cán được tra chặt để thuận tiện cho việc cuốc đất dưới tán và đảm bảo an toàn cho người cuốc đất.
Nếu tiến hành làm đứt bớt rễ vải bằng máy thì chúng ta cần chuẩn bị:
- Máy làm đất loại nhỏ
- Nhiên liệu phục vụ cho máy hoạt động
Máy cày loại nhỏ dùng để làm đứt rễ vải bằng cày hoặc phay đất
Máy cày loại nhỏ dùng để làm đứt rễ vải bằng cày hoặc phay đất

2.3.2. Xác định diện tích đất dưới tán cần cuốc (phay)

Diện tích đất dưới tán cần cuốc để làm đứt bớt rễ là hình chiếu của tán xuống dưới mặt đất, như vậy đây chính là phần diện tích đất dưới tán vải, nhãn sau khi đã chừa lại phần đất xung quanh gốc có bán kính dao động từ 1 đến 2m tùy theo cây có tuổi nhỏ hay lớn.

2.3.3. Cuốc đất (phay đất) dưới tán

Nếu làm đứt rễ dưới tán vải, nhãn bằng công cụ thủ công thì ta chỉ cần cuốc lớp đất xung quanh gốc dưới tán cây có độ sâu từ 10 đến 15 cm là được, bởi vì lớp rễ tơ của vải nhãn thường phân bố ở độ sâu từ 0-20 cm.
Nếu làm đứt rễ cây bằng máy thì ta tiến hành cày toàn bộ diện tích đất xung quanh gốc dưới tán vải có độ sâu từ 10 -15 cm là được; Bởi vì rễ tơ của vải, nhãn không phân bố ở gần gốc cây và phần đất xung quanh gốc cây không cần cuốc hoặc phay.

2.4. Kiểm tra đánh giá tình hình sinh trưởng của vải, nhãn sau làm đứt bớt rễ

2.4.1. Kiểm tra tình hình sinh trưởng của vải, nhãn sau cuốc đứt bớt rễ (Nội dung tương tự mục 1.4.1 của bài)

2.4.2. Đánh giá tình hình sinh trưởng của vải, nhãn sau cuốc đứt bớt rễ

Đánh giá tình hình sinh trưởng của vải, nhãn sau cuốc đứt bớt rễ tức là đánh giá sinh trưởng lộc của vải, nhãn; nếu vải nhãn sau cuốc đứt bớt rễ không xuất hiện lộc trên tán tức là biện pháp cuốc đứt bớt rễ đã cho hiệu quả tốt đó là ngăn được sự xuất hiện của lộc đông; và ngược lại.
Nếu biện pháp cuốc đứt bớt rễ không mang lại hiệu quả thì chúng ta cần phải khống chế sinh trưởng của lộc vải nhãn bằng biện pháp sử dụng hóa chất bằng cách phun Ethrel hoặc phun đạm và ka ly hoặc ka ly ở liều cao để diệt lộc vải, nhãn (xem bài Xử lý ra hoa cây vải, nhãn: Điều khiển sinh trưởng bằng hóa chất).
Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây vải, nhãn - Bộ NN&PT NT
>

Kỹ thuật nhân giống bằng hình thức chiết, ghép và giâm cành

1. Tạo cây nguyên liệu bằng chiết cành.


Chiết cành là một hình thức nhân giống cây ăn quả mà cây con vẫn giữ nguyên được các đặc tính di truyền của cây mẹ.
Cây chiết sinh trưởng, phát triển nhanh, thân cây thấp, tán gọn dễ chăm sóc, ra quả sớm và nhanh cho thu hoạch.Vì vậy chiết cành là phương pháp nhân giống vô tính đơn giản, dễ làm, tỷ lệ sống cao, thuận tiện cho việc chuyển giao giống tốt cho các hộ làm vườn quy mô nhỏ. Song chiết cành cũng có hạn chế nhất định như cây chiết nhanh cỗi, cây không vững vàng, hệ số nhân giống thấp và gây tổn thương cây mẹ. Song nếu được chăm sóc cẩn thận cây chiết vẫn có thể cho thu hoạch quả tới 20 - 30 năm. Kỹ thuật chiết cành nhân giống cây ăn quả gồm:

1.1. Đối tượng chiết

Hầu hết các loại cây cảnh đều có thể nhân giống bằng chiết cành như sanh, si, đa... trừ một số cây khó ra rễ.

1.2. Chọn cây và cành chiết

Chọn cây: Nên chọn những cây đã ra quả từ 3-5 vụ, chọn những cây có năng suất cao, ổn định, chất lượng tốt, cây sinh trưởng khoẻ và không bị sâu bệnh.
Chọn cành: Trong chiết cành không nên chọn cành già, cành ở thấp, cành mọc trên ngọn, cành bị sâu bệnh, cành vượt. Tốt nhất nên chọn cành ở giữa tầng tán phơi ra ngoài ánh sáng, gióng ngắn, cành mập, đường kính từ 1,0-1,5 cm, màu vỏ cây không quá xanh và cũng không quá thẫm, nên chọn cành bánh tẻ để chiết. Chiều dài cành chiết từ 40-60 cm, có hai nhánh. Trong chiết cành thì cành nhỏ có khả năng ra rễ, sinh trưởng tốt hơn cành to, nhưng nếu chiết cành nhỏ quá, cành dễ bị gãy, không mang nổi bầu.

1.3. Thời vụ chiết

- Vụ xuân hè: chiết vào tháng 3 và 4
- Vụ thu đông: chiết vào tháng 9
Trước khi chiết cành cần chăm sóc cây mẹ từ 1 - 2 tháng để cây mẹ sinh trưởng khoẻ, nhựa trong cây lưu thông mạnh, cành chiết nhanh ra rễ.

1.4. Kỹ thuật chiết

  • Bước 1. Khoanh vỏ:


Cành chiết đã được khoanh vỏ
Dùng dao sắc khoanh tròn cành chiết ở hai đầu cách nhau từ 3-5 cm, cách gốc cành 10-15 cm, sau đó dùng mũi dao bóc vỏ vùng đã khoanh.
Dùng dao cạo sạch chất nhờn trên mặt gỗ để loại bỏ lớp tế bào tượng tầng, dùng giẻ lau sạch vết cắt.
  • Bước 2. Chuẩn bị hỗn hợp bó bầu:

Cùng với việc chọn cành, cần chuẩn bị đất để bó bầu. Dùng đất vườn hoặc đất bùn ao phơi khô, đập nhỏ rồi trộn lẫn với phân chuồng hoai mục, trấu bổi hay rơm rác mục, rễ bèo tây...
Hỗn hợp đất bó bầu
Hỗn hợp theo tỷ lệ 2/3 đất còn 1/3 là những nguyên liệu kể trên và được làm ẩm đến 70% độ ẩm bão hoà (đất có thể vê thành “con giun”, nhưng nắm chặt nước không chảy ra tay).
Một bầu chiết đường kính từ 6-8 cm, trọng lượng 150 - 300 g, chiều cao bầu đất 10-12 cm. Không nên làm bầu quá to, cây không cung cấp đủ nước cho đất, đất phía ngoài bị khô cứng, chặt bí cây khó ra rễ.
  • Bước 3. Chiết cành

Chọn ngày có thời tiết tốt (trời nắng), dùng dao sắc cắt khoanh vỏ không nên cắt vào phần gỗ, nên bố trí cắt vỏ buổi sáng, tuỳ theo từng giống cây khác nhau mà thời gian bó bầu cũng khác nhau.
Ví dụ, các loại cây có nhiều nhựa mủ như hồng xiêm, trứng gà thì nên phơi nắng tối thiểu 7 ngày sau đó mới bó bầu, còn các giống ít nhựa mủ hơn như các cây có múi, nhãn, vải... thì nên phơi nắng tối thiểu 2-3 ngày sau đó mới bó bầu
Cành chiết sau khi bó bầu xong
Chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu như đất bó bầu, giấy nilon, dây bó... Dùng nguyên liệu đất đã chuẩn bị, giàn đất mỏng đều đủ bó xung quanh cành, dùng giấy nilông quấn xung quanh bầu, lấy dây buộc chặt hai đầu túi bầu, buộc chặt không cho bầu chiết xoay tròn.
  • Bước 4. Cắt cành chiết

Sau khi chiết từ 45-60 ngày, tùy theo mùa vụ và giống cây ăn quả khác nhau, quan sát thấy rễ mọc ra. Khi rễ đã chuyển từ màu trắng nõn sang màu vàng ngà hoặc hơi xanh thì có thể cưa cành chiết giâm vào vườn ươm..

Cành chiết sau khi cắt
  • Bước 5. Hạ bầu chiết

Trước khi hạ bầu chiết cần cắt bớt những lá già, lá bị sâu và một phần lá non Mật độ giâm cành chiết 20x20 cm, hoặc 30 x 30 cm. Không nên giâm cành chiết quá dầy, rễ và mầm cành phát triển kém, khi bứng đi trồng khó khăn.
Hạ bầu chiết
Trước khi hạ bầu, xé bỏ giấy nilon, dùng đất màu lấp cách cổ bầu 3-5 cm, tưới đẫm nước, nên che bớt 50% ánh sáng tự nhiên, hàng ngày tưới 2 lần như trên. Sau 5- 10 ngày chuyển sang chế độ 1-2 ngày tưới 1 lần tùy theo độ ẩm đất. Có thể ra ngôi cành chiết trong túi nilon hay sọt chiết tre và chăm sóc như với cây giâm cành
Sau khi hạ bầu 15 - 20 ngày, bỏ bớt mái che để cây quen dần với ánh sáng tự nhiên. Đến ngày thứ 30 bắt đầu tưới nước phân đã ngâm kỹ và chăm sóc như cây con. Sau giâm cành chiết từ 45-60 ngày có thể đánh cây đi trồng.

2. Tạo cây nguyên liệu bằng hình thức ghép

Cơ sở khoa học của phương pháp là khi ghép, bằng những phương pháp nhất định làm cho tượng tầng của gốc ghép và thân ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và khả năng tái sinh của tượng tầng làm cho mắt ghép và gốc ghép gắn liền với nhau.
  • Những ưu điểm của phương pháp ghép

- Cây ghép sinh trưởng phát triển tốt nhờ sự phát triển, hoạt động tốt của bộ rễ gốc ghép và khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai của cây gốc ghép.
- Cây ghép giữ được các đặc tính của giống muốn nhân.
- Hệ số nhân giống cao, trong thời gian ngắn có thể sản xuất được nhiều cây giống đáp ứng yêu cầu của sản xuất.
- Giống làm gốc ghép sớm cho ra hoa kết quả vì mắt ghép chỉ tiếp tục giai đoạn phát dục của cây mẹ.
- Tăng cường khả năng chống chịu của cây với điều kiện bất thuận như: chịu hạn, chịu úng, chịu rét và sâu bệnh.
- Thông qua gốc ghép có thể điều tiết được sự sinh trưởng của cây ghép.
- Có khả năng phục hồi sinh trưởng của cây, duy trì giống quý thông qua các phương pháp ghép như: ghép nối cầu hay ghép tiếp rễ.

2.1. Chọn cây gốc ghép.

- Giống làm gốc ghép phải sinh trưởng khoẻ có khả năng thích ứng rộng với điều kiện địa phương.
- Giống làm gốc ghép phải có khả năng tiếp hợp tốt với thân cành ghép.
- Giống làm gốc ghép phải có khả năng chống chịu sâu bệnh và có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
- Giống làm gốc ghép phải sinh trưởng nhanh, dễ gây giống, ít mọc mầm phụ ở gốc cây con.
  • Những yêu cầu kỹ thuật để nâng cao tỷ lệ ghép sống và tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

- Chăm sóc cây con trước khi ghép: sau khi ra ngôi cần áp dụng đầy đủ các quy trình khác của kỹ thuật chăm sóc để cây gốc ghép sớm đạt tiêu chuẩn ghép. Trước khi ghép 1 - 2 tuần cần tiến hành vệ sinh vườn cây gốc ghép và tăng cường chăm sóc để cây có nhiều nhựa, tượng tầng hoạt động tốt.

2.2. Chọn cành và mắt ghép.

Chọn cành, mắt ghép tốt: cành ghép được lấy từ vườn chuyên lấy cành ghép hoặc trên vườn sản xuất với những cây mang đầy đủ các đặc tính của giống muốn nhân. Cành ghép được chọn ở giữa tầng tán, không có các đối tượng sâu bệnh nguy hiểm gây hại. Tuổi cành ghép chọn phù hợp tuỳ thuộc vào thời vụ ghép khác nhau. Trong điều kiện cần vận chuyển đi xa, cần bảo quản trong điều kiện đủ ẩm, tránh nhiệt độ cao.

2.3. Thời vụ ghép

Chọn thời vụ ghép tốt: trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta, đa số các giống cây ăn quả được tập trung ghép vào vụ xuân và vụ thu.
- Thao tác kỹ thuật ghép: đây là khâu kỹ thuật có tính chất quyết định, phụ thuộc vào sự thành thạo của người ghép. Các thao tác ghép cần được tiến hành nhanh và chính xác.
- Chăm sóc cây con sau khi ghép: tất cả các khâu kỹ thuật từ mở dây sau ghép, xử lý ngọn gốc ghép, tỉa mầm dại, tưới nước làm cỏ, bón phân, tạo hình cây ghép cho tới công tác phòng trừ sâu bệnh hại cần được tuân thủ một cách nghiêm ngặt, đúng kỹ thuật.

2.4. Kỹ thuật ghép

+ Tuỳ thuộc vào mục đích áp dụng, từng đối tượng cây ăn quả mà có thể sử dụng các phương pháp khác nhau. Một số phương pháp ghép chủ yếu đang được áp dụng để nhân giống cây ăn quả được chia thành hai nhóm là ghép mắt và ghép cành.
+ Nhóm các phương pháp ghép mắt.
  • Phương pháp ghép mắt cửa sổ.

Phương pháp ghép mắt cửa sổ thường được áp dụng với các chủng loại cây ăn quả dễ bóc vỏ, có thân cành dễ lấy mắt, mắt ghép lớn.
1: Cắt vỏ trên gốc ghép - 2: Lấy mắt ghép - 3: Đặt mắt ghép vào gốc ghép - 4: Quấn chặt lại bằng dây nilon (chừa đỉnh sinh trưởng của mắt ghép)
Ghép mắt cửa sổ
Trên gốc ghép, cách mặt đất 25 - 30 cm, chọn vị trí không có nhánh hoặc mầm ngủ, tiến hành mở vết ghép có dạng cửa sổ và bóc bỏ phần vỏ. Trên cành ghép, chọn vị trí có mầm ngủ, cắt một phần khoanh vỏ có chứa mầm ngủ với kích thước tương tự hoặc nhỏ hơn vết mở trên gốc ghép. Đặt mắt ghép vào gốc ghép và dùng dây nilon cuốn lại, lưu ý cuốn kín dây từ dưới lên trên một lượt để tránh nước mưa thấm vào và cố định dây ghép.
Sau ghép 15 - 20 ngày tuỳ thuộc vào chủng loại cây ăn quả, tiến hành cởi dây ghép. Nếu mắt ghép còn xanh thì sau 2 - 3 ngày tiến hành cắt ngọn gốc ghép, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con sau khi ghép.
  • Phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ

Phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ được áp dụng để nhân giống hồng, các cây ăn quả có múi và một số chủng loại cây ăn quả khác.
Trên gốc ghép, ở độ cao cách mặt đất 25 - 30 cm, chọn vị trí không có nhánh hoặc mầm ngủ, tiến hành mở gốc ghép có dạng hình lưỡi của gốc ghép. Trên cành ghép, chọn vị trí có mầm ngủ, cắt lấy mắt ghép dạng hình lưỡi có một phần gỗ tương tự như trên gốc ghép. Đặt mắt ghép vào gốc ghép và dùng dây nilon cuốn lại, lưu ý cuốn kín dây từ dưới lên trên một lượt để tránh nước mưa thấm vào và cố định dây ghép. Trường hợp mắt ghép nhỏ hơn so với vết mở trên gốc ghép thì đặt mắt ghép lệch về một bên để có ít nhất một phía tượng tầng được trùng khớp.
1: lấy mắt ghép 2: tách vỏ hình chữ T trên gốc ghép - 3: đặt mắt ghép vào gốc ghép 4: Quần lại bằng dây nilon -
5: kết quả sau khi mắt ghép phát triển tốt
Ghép mắt nhỏ có gỗ
Sau ghép 20 - 25 ngày tuỳ thuộc vào chủng loại cây ăn quả, tiến hành cởi dây ghép. Nếu mắt ghép còn xanh thì sau 2 - 3 ngày tiến hành cắt ngọn gốc ghép, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con sau khi ghép.
+ Nhóm các phương pháp ghép cành
  • Phương pháp ghép áp

Ghép áp thường áp dụng trong việc tạo thêm cành, sửa lại cây khuyết tán hay tạo ngọn cành cho cây dáng thế. Trên cành ghép và gốc ghép, mở vết cắt có kích thước tương tự nhau, dài từ 8 - 10 cm, áp hai vết cắt vào nhau và cuốn kín lại bằng dây nilon, dùng dây buộc cố định của gốc ghép trên thân cây chọn cành ghép.
Sau ghép khoảng 1,5 - 2 tháng, tiến hành cởi dây ghép và cắt ngọn của gốc ghép. Sau đó khoảng 7 - 10 ngày, cắt tiếp phần gốc của cành ghép và tạo được cây giống hoàn chỉnh.
Ghép áp
  • Phương pháp ghép cành bên

Phương pháp ghép cành bên được sử dụng trong trường hợp cây gốc ghép khó bóc vỏ để sử dụng các phương pháp ghép khác hoặc ghép trong mùa khô.
Ghép cành bên
Trên gốc ghép, ở độ cao cách mặt đất 25 - 30 cm, mở vết cắt tương tự như phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ nhưng có kích thước từ 2 - 3 cm. Trên cành ghép, cắt một lát cắt tạo vết cắt dài, có kích thước tương tự như vết mở trên gốc ghép, giữ lại 2 - 3 mầm ngủ. Cài cành ghép vào vết mở của gốc ghép và dùng dây nilon cuốn kín lại. Cuốn dây nilon từ dưới lên trên và cố định dây cuốn lần thứ nhất khi cuốn kín vết cắt, sau đó tiếp tục cuốn dây một lượt lên trên và cố định dây ghép. Sau ghép 20 - 25 ngày, tiến hành cởi dây ghép đến vị trí cố định dây lần 1 và sau 1 - 2 ngày thì cắt ngọn gốc ghép. Khi cây có 1 - 2 đợt lộc ổn định thì cắt tiếp phần còn lại của dây ghép.
  • Phương pháp ghép đoạn cành

Phương pháp ghép đoạn cành được sử dụng để nhân giống hầu hết các đối tượng cây thân gỗ.
Ghép đoạn cành
Trên gốc ghép, ở độ cao cách mặt đất 25 - 30 cm, tiến hành cắt ngọn gốc ghép (có giữ lại một vài lá gốc). Chọn cành ghép có đường kính tương tự với đường kính gốc ghép, cắt một lát cắt tạo vết cắt dài 2 - 2,5 cm, có 2 - 3 mầm ngủ. Chẻ một vết trên gốc ghép có chiều rộng và sâu tương tự với kích thước của vết cắt trên cành ghép. Cài cành ghép vào gốc ghép sao cho ít nhất có một phía tượng tầng được trùng khớp và dùng dây nilon mỏng cuốn lại.
Trước hết cuốn nhiều vòng dây để cố định cành ghép vào gốc ghép, sau đó trải rộng dây nilon và cuốn kín một lượt xung quanh cành ghép, đưa dây nilon trở lại cố định dây tại gốc ghép. Sau ghép 15 - 20 ngày, mầm ghép bắt đầu mọc xuyên qua dây cuốn, tiến hành các biện pháp chăm sóc cây con sau khi ghép.
  • Phương pháp ghép nêm

Phương pháp ghép nêm được sử dụng cả nhân giống trong vườn ươm và ghép cải tạo vườn cây ăn quả.
Trên gốc ghép, cắt bỏ toàn bộ thân tán ở vị trí phù hợp, chọn cành ghép và cắt cả hai phía tạo thành hình chiếc nêm. Chẻ đôi gốc ghép và cài cành ghép sao cho phần tượng tầng phía ngoài của gốc ghép và cành ghép được trùng khớp với nhau. Dùng dây nilon cuốn chặt cố định cành ghép với gốc ghép và cuốn kín cành ghép để chống thoát hơi nước.

Ghép nêm
Sau khi cành ghép bật lộc, có 1 - 2 đợt lộc ổn định sinh trưởng thì tiến hành cắt bỏ dây ghép. Sau đó áp dụng các biện pháp chăm sóc cây sau ghép như các phương pháp ghép khác.
  • Phương pháp ghép sửa chữa thân và sửa chữa rễ

Các phương pháp ghép này được sử dụng khi cần nối phần vỏ bị tổn thương của cây hoặc cải tạo bộ rễ cây đã bị gây hại.
Đối với phương pháp ghép sửa chữa thân, sử dụng các đoạn cành của cùng giống cây ăn quả ghép nối lại phần vỏ qua vị trí bị tổn thương. Trên cành ghép, cắt tạo vết cắt tương tự như mở vết cắt của phương pháp ghép cành bên nhưng dài từ 3 - 5 cm ở cả hai đầu của đoạn cành. Trên thân cây, bóc vỏ mở vết ghép có kích thước tương tự với vết cắt của cành ghép. Cài cành ghép vào thân cây và cuốn kín lại bằng dây nilon. Khi vết ghép gắn liền, tiến hành cởi dây ghép.
Đối với phương pháp ghép sửa chữa rễ, tiến hành trồng các cây gốc ghép xung quanh gốc cây cần ghép sửa chữa, cắt ngọn gốc ghép tạo vết cắt tương tự như đoạn cành của phương pháp ghép sửa chữa thân, bóc vỏ mở vết ghép có kích thước tương tự với vết cắt của cành ghép. Cài vết cắt của gốc ghép vào thân cây và cuốn kín vết ghép bằng dây nilon khi vết ghép gắn liền, tiến hành cởi dây ghép.

3. Tạo cây nguyên liệu bằng hình thức giâm cành

Giâm cành là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng. Cơ sở khoa học của phương pháp tương tự như nhân giống bằng phương pháp chiết cành.

3.1. Chọn cành giâm.

Đối với các cây cảnh dạng gỗ cứng , có rụng lá mùa đông, thường lấy cành giâm khi cây bước vào thời kỳ ngủ nghỉ. Đối với các cây thân gỗ mềm, không rụng lá thường lấy cành giâm vào mùa sinh trưởng. Chọn các hom bánh tẻ làm hom giâm, chiều dài hom khoảng 10cm, đầu dưới cắt vát để tăng diện tích tiếp xúc với đất giúp cây nhanh mọc rễ. Sử dụng chất kích thích ngâm hoặc nhúng ở phần gốc hom giâm.
Cành giâm được chọn ở giữa tầng tán tương tự chọn cành chiết, chiều dài hom giâm thích hợp từ 15 - 20 cm.
Đối với những cành giâm lấy vào mùa sinh trưởng nên để lại trên hom giâm từ 2 - 4 lá.

3.2. Cắt hom giâm.

Cắt cành giống vào những ngày râm, mát, mưa nhẹ hoặc sáng sớm, chiều mát.
Cắt xong, phun nước lã và đặt đứng vào các xô chậu có nước cao 5cm, che đậy. Đem ngay về vườn ươm, cắt thành các hom dài 5-7cm có 2-4 lá, đối với chè thì mỗi hom dài 3-4cm có 1 lá và mầm nách lá.
Có thể cắt bớt một phần phiến lá để tránh bốc hơi nước.
Cắt cành giâm

3.3. Bảo quản hom cắt.

Cắt hom xong phải cắm giâm ngay là tốt nhất, nếu không ta phải bảo quản bằng cách quấn khăn ướt và để nơi thoáng mát.

3.4. Xử lý hom trước khi giâm

Để tăng khả năng ra rễ của cành giâm, có thể nhúng phần gốc hom giâm vào dung dịch chất điều tiết sinh trưởng như: Auxin (α-NAA, IBA, IAA) ở nồng độ 2000 - 4000 ppm trong vài giây hoặc ngâm phần gốc hom giâm vào các dung dịch trên ở nồng độ 20 - 40 ppm trong thời gian 10 - 20 phút.

3.5. Nền giâm.

Nền giâm thích hợp là đất pha cát thoát nước, không có mầm mống sâu bệnh. Nếu giâm trực tiếp vào bầu thì thì chọn đất thịt nhẹ, trộn lân nung chảy để làm đất đóng bầu. Bầu đóng được xếp thành luống và có giàn che nắng.

3.6. Thực hiện giâm.

Cứ 1m2 cắm 160 hom với mật độ 6x10cm; để mặt lá cách mặt đất 1cm, nén chặt đất và tưới ngay. Cắm vào túi bầu: 1 - 2 hom/túi. Chất nền có độ ẩm 80-85%.
Cắm vát hom giâm vào giá thể giâm, độ sâu cắm cành khoảng 1/3 chiều dài cành

Cắm hom giâm

3.7. Chăm sóc sau khi giâm

Sau khi giâm cần tưới ướt bề mặt lá thường xuyên ở dạng phun sương để tránh thoát hơi nước gây rụng lá. Khi cành giâm có một đợt lộc mới ổn định sinh trưởng và có đầy đủ rễ thì tiến hành ra ngôi và chăm sóc cây cho đến khi đạt tiêu chuẩn xuất vườn.
Giai đoạn từ giâm cho tới khi có rễ và lộc mới ổn định cần được tiến hành trong nhà giâm, khi ra ngôi cần chọn thời điểm có điều kiện thời tiết thuận lợi hoặc ra ngôi trong điều kiện có mái che.
Nguồn: Giáo trình nghề tạo dáng và chăm sóc cây cảnh - Bộ NN&PT NT
>